Kế toán tài chính

Tổ chức công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp (P.2)

Chia sẻ ngay

Tổ chức công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp (P.2) - ảnh 1

Các quan điểm về tổ chức công tác kế toán 

Về nguyên tắc, tổ chức công tác kế toán tài được xem như tổ chức các công việc của kế toán một cách tốt nhất, nhằm đạt được yêu cầu hoạt động và cung cấp thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý. Cụ thể:

– Tổ chức công tác kế toán là những mối quan hệ có yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán: Chứng từ kế toán, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp – cân đối kế toán”.

Quan điểm này mới chỉ nói lên tổ chức về các phương pháp kế toán một cách chung nên chưa thể hiện rõ được nhiều yếu tố liên quan.

– Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc sử dụng các phương pháp kế toán để thực hiện việc phân loại, ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phù hợp với Luật Kế toán, Luật Ngân sách Nhà nước và các chính sách, chế độ hiện hành; phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị”.

Quan điểm này nêu cụ thể hơn về tổ chức công tác kế toán, tạo điều kiện cho việc vận dụng vào thực tế được thuận lợi hơn. Song, chưa nêu rõ vấn đề về tổ chức bộ máy để thực hiện các khâu công việc kế toán.

Từ các quan điểm trên, có cách tiếp cận và luận giải khác nhau về tổ chức công tác kế toán nhưng đều có mục đích chung là hướng tới việc sắp xếp, tổ chức các công việc mà kế toán cần phải thực hiện tốt chức năng tổ chức thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính một cách kịp thời, đầy đủ phục vụ cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô.

Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức nhân sự kế toán theo các phần hành kế toán cụ thể, thực hiện các phương pháp kế toán phù hợp với yêu cầu thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính, phù hợp với đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp (DN) nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nội dung cụ thể của tổ chức công tác kế toán theo quy định của Chương II, Luật Kế toán quy định nội dung cụ thể về tổ chức công tác kế toán, gồm:

+ Về chứng từ kế toán: Chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn; các yếu tố cơ bản của chứng từ kế toán; lập chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán; chứng từ điện tử.

+ Về tài khoản kế toán và sổ kế toán: Phải lựa chọn áp dụng hệ thống tài khoản kế toán và sổ kế toán cho phù hợp với đặc điểm của DN; mở sổ kế toán, quản lý theo dõi, sửa chữa và khoá sổ kế toán.

+ Về báo cáo tài chính (BCTC): Các loại BCTC; lập BCTC; thời hạn nộp và công khai BCTC; nội dung công khai BCTC; kiểm toán BCTC.

+ Về công tác kiểm tra kế toán: Cơ quan chức năng thực hiện kiểm tra kế toán, nội dung kiểm tra kế toán; quyền và trách nhiệm của đoàn kiểm tra và đơn vị được kiểm tra kế toán.

+ Về kiểm kê tài sản, bảo quản và lưu giữ tài liệu kế toán: Các trường hợp kiểm kê tài sản; nội dung của việc kiểm kê tài sản; bảo quản và lưu giữ tài liệu kế toán.

+ Về công việc kế toán trong trường hợp đơn vị kế toán chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể chấm dứt hoạt động phá sản.

Tổ chức công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp (P.2) - ảnh 2

Vận dụng công tác kế toán quản trị

Từ những nội dung liên quan đến công tác tổ chức kế toán vừa nêu, có thể vận dụng để tổ chức công tác kế toán quản trị đối với DN đó là:

– Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán: Là việc vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về lập, luân chuyển, quản lý và sử dụng chứng từ kế toán phù hợp với điều kiện cụ thể của DN.

Chứng từ kế toán được DN thiết kế, bổ sung chỉ tiêu dựa trên những mẫu hướng dẫn (không bắt buộc, không có quy định cụ thể của Nhà nước) nhằm phục vụ yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ nội bộ DN.

– Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán: Căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng, DN chi tiết hoá theo các cấp (cấp 2, 3, 4) phù hợp với kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu cung cấp thông tin của kế toán quản trị trong DN.

Để đảm bảo được những yêu cầu trên, việc tổ chức bộ máy kế toán của doanh nghiệp phải căn cứ vào hình thức tổ chức công tác kế toán (tập trung, phân tán hay vừa tập trung vừa phân tán), vào đặc điểm tổ chức và quy mô SXKD của doanh nghiệp; vào tình hình phân cấp quản lý, khối lượng, tính chất và mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế – tài chính cũng như yêu cầu, trình độ quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ quản lý, cán bộ kế toán.

Việc tổ chức, cơ cấu bộ máy kế toán trong doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với hình thức tổ chức công tác kế toán. Hiện nay trong các DNSX, việc tổ chức công tác kế toán có thể tiến hành theo một trong các hình thức sau:

  • Hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung.
  • Hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán.
  • Hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán

Xem thêm: Để doanh nghiệp phát triển bền vững: Chuyên gia tài chính, kế toán cũng phải có trách nhiệm

Tổ chức kiểm tra kế toán

Kiểm tra kế toán là xem xét, đánh giá việc tuân thủ pháp luật về kế toán, sự trung thực, chính xác của thông tin, số liệu kế toán.

Việc Kiểm tra kế toán (KTKT) chỉ được thực hiện khi có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và doanh nghiệp (ĐVKT) phải có trách nhiệm cung cấp cho Đoàn kiểm tra kế toán TLKT có liên quan đến nội dung kiểm tra và giải trình các nội dung theo yêu cầu của Đoàn KTKT. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải thực hiện các kết luận của Đoàn KTKT.

Đơn vị kế toán phải chịu sự KTKT của Cơ quan có thẩm quyền. Việc KTKT chỉ được thực hiện khi có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, trừ các Cơ quan thanh tra Nhà nước, thanh tra chuyên ngành về tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan thuế khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các ĐVKT.

Các cơ quan có thẩm quyền quyết định về việc KTKT

Bộ Tài chính;
Các bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương quyết định kiểm tra kế toán các đơn vị kế toán trong lĩnh vực được phân công phụ trách;
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định kiểm tra kế toán các đơn vị kế toán tại địa phương do mình quản lý;
Đơn vị cấp trên quyết định kiểm tra kế toán đơn vị trực thuộc.

Các cơ quan có thẩm quyền về việc kiểm tra kế toán

Là các Cơ quan có thẩm quyền quyết định về việc KTKT;
Cơ quan thanh tra Nhà nước, thanh tra chuyên ngành về tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan thuế khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các ĐVKT.

Những quy định về kiểm tra kế toán của Luật kế toán

Quy định về nội dung kiểm tra kế toán

Nội dung kiểm tra kế toán phải được xác định trong quyết định kiểm tra, trừ trường hợp có quy định khác.

Nội dung KTKT gồm:

Kiểm tra về việc thực hiện nội dung công tác KT;
Kiểm tra về việc tổ chức bộ máy KT và người làm KT;
Kiểm tra về việc tổ chức quản lý và hoạt động KD DVKT;
Kiểm tra về việc chấp hành các quy định khác của PL về KT tại ĐVKT.

Về thời gian kiểm tra kế toán

Thời gian KTKT do Cơ quan có thẩm quyền KTKT quyết định nhưng không quá 10 ngày, không kể ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của Bộ luật lao động.

Trường hợp nội dung KTKT phức tạp, cần có thời gian để đánh giá, đối chiếu, kết luận, Cơ quan có thẩm quyền KTKT có thể kéo dài thời gian kiểm tra;

Thời gian kéo dài đối với mỗi cuộc kiểm tra không quá 05 ngày, không kể ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của Bộ luật lao động.

Về quyền và trách nhiệm của đoàn KTKT

Quyền của Đoàn KTKT

Đoàn KTKT có quyền yêu cầu ĐVKT được kiểm tra cung cấp TLKT có liên quan đến nội dung KTKT và giải trình khi cần thiết.

Nếu Đoàn KTKT phát hiện có vi phạm PL về kế toán thì sẽ xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển hồ sơ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của PL.

Trách nhiệm của Đoàn KTKT

Khi kiểm tra kế toán, Đoàn KTKT phải công bố quyết định kiểm tra kế toán, trừ các đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán là Cơ quan thanh tra Nhà nước, thanh tra chuyên ngành về tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan thuế.

Khi kết thúc kiểm tra kế toán, Đoàn KTKT phải lập Biên bản về việc kiểm tra kế toán và giao cho ĐVKT được kiểm tra một bản;

Trưởng Đoàn KTKT phải chịu trách nhiệm về các kết luận kiểm tra.

Đoàn KTKT phải tuân thủ trình tự, nội dung, phạm vi và thời gian kiểm tra, không được làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của ĐVKT và không được sách nhiễu ĐVKT được kiểm tra.

Về quyền và trách nhiệm của ĐVKT được kiểm tra kế toán

Trách nhiệm Đơn vị kế toán khi được KTKT

Cung cấp cho Đoàn kiểm tra kế toán TLKT có liên quan đến nội dung kiểm tra và giải trình các nội dung theo yêu cầu của Đoàn KTKT;

ĐVKT thực hiện kết luận của Đoàn KTKT.

Các quyền của Đơn vị kế toán khi được KTKT

ĐVKT có quyền từ chối việc KTKT nếu thấy việc kiểm tra không đúng thẩm quyền quy định hoặc nội dung kiểm tra không đúng với quy định của Luật KT 2015;

Trong trường hợp không đồng ý với kết luận của Đoàn KTKT, ĐVKT có quyền khiếu nại với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Tổ chức công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp (P.2) - ảnh 3

Tổ chức kiểm tra và phân tích báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.

Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

  • Tài sản;
  • Nợ phải trả;
  • Vốn chủ sở hữu;
  • Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác;
  • Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;
  • Các luồng tiền.

Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh Báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các Báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp

Kỳ lập báo cáo tài chính

Theo điều 98 của THÔNG TƯ 200/2014/TT-BTC, kỳ lập báo cáo tài chính được quy định như sau:

Kỳ lập Báo cáo tài chính năm
Các doanh nghiệp phải lập Báo cáo tài chính năm theo quy định của Luật kế toán.

Kỳ lập Báo cáo tài chính giữa niên độ

Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm Báo cáo tài chính quý (bao gồm cả quý IV) và Báo cáo tài chính bán niên.

Kỳ lập Báo cáo tài chính khác

a) Các doanh nghiệp có thể lập Báo cáo tài chính theo kỳ kế toán khác (như tuần, tháng, 6 tháng, 9 tháng…) theo yêu cầu của pháp luật, của công ty mẹ hoặc của chủ sở hữu.

b) Đơn vị kế toán bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản phải lập Báo cáo tài chính tại thời điểm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản.

Xác định niên độ tổng hợp Báo cáo tài chính của cơ quan tài chính, thống kê

Khi tổng hợp thống kê, trường hợp nhận được Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp có năm tài chính khác năm dương lịch, cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện theo nguyên tắc:

a) Trường hợp Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp bắt đầu từ 1/4, kết thúc vào 31/3 hàng năm thì số liệu trên Báo cáo tài chính được tổng hợp thống kê vào số liệu của năm trước liền kề;

b) Trường hợp Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp bắt đầu tư 1/7, kết thúc vào 30/6 hàng năm, Báo cáo tài chính dùng để tổng hợp thống kê là Báo cáo tài chính bán niên;

c) Trường hợp Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp bắt đầu từ 1/10, kết thúc vào 30/9 hàng năm thì số liệu trên Báo cáo tài chính được tổng hợp thống kê vào số liệu của năm sau.

Chính bởi tầm quan trọng của báo cáo tài chính mà bất cứ ai muốn làm việc trong lĩnh vực kế toán, tài chính cũng cần phải nắm được các quy định, kỹ năng lập báo cáo tài chính để giúp doanh nghiệp hoàn thành tốt nghĩa vụ.

Phần mềm kế toán MISA đáp ứng đầy đủ nghiệp vụ Tài chính – Kế toán theo đúng Thông tư 133/TT-BTC/2014 và Thông tư 200/TT-BTC/2016 của Bộ Tài chính. Phần mềm giúp doanh nghiệp chuẩn hóa sổ sách kế toán ngay từ đầu, giúp kế toán vận dụng hiệu quả các hệ thống chứng từ, tài khoản, báo cáo…vào công tác kế toán tài chính doanh nghiệp.

Theo: sme.misa.vn

Xem phần trước: Tổ chức công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp (P.1)

 

 


Chia sẻ ngay

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

.
.
.
.